Cựu chiến binh Quảng Trị chung sức phát triển nông nghiệp xanh

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cán bộ, hội viên Cựu chiến binh (CCB) tỉnh Quảng Trị đang tích cực đổi mới tư duy, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, xây dựng các mô hình kinh tế thân thiện với môi trường. Từ những cánh đồng lúa liên kết đến vườn ươm giống cây lâm nghiệp công nghệ cao, các mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực mà còn góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, bền vững tại địa phương.

CCB Nguyễn Duy Viên và CCB Thái Thị Bang (người thứ 3, thứ 4 từ trái  sang), vinh dự được Chủ tịch UBND Tỉnh tặng Bằng khen.

Phát huy vai trò CCB trong phát triển kinh tế xanh

Sau hợp nhất, Hội CCB tỉnh Quảng Trị hiện có 79 tổ chức cơ sở Hội trực thuộc, với gần 92 nghìn hội viên. Trong đó, hội viên CCB làm chủ 195 doanh nghiệp, 113 hợp tác xã, 60 tổ hợp tác, 315 trang trại, 1.357 gia trại và 1.609 cơ sở kinh doanh, dịch vụ; tạo việc làm ổn định cho 20.925 lao động.

Phát huy truyền thống, bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, những năm qua, các cấp Hội CCB trong tỉnh đã triển khai nhiều cách làm sáng tạo, nâng cao chất lượng phong trào “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi”, gắn với phát triển phong trào “Nông nghiệp xanh”. Các hoạt động thiết thực của hội viên góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và nâng cao đời sống nhân dân.

Đáng chú ý, các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác do CCB làm chủ đã phát huy hiệu quả trong tổ chức sản xuất, liên kết các hộ gia đình, xã viên với doanh nghiệp, từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản. Không chỉ là những mô hình phát triển kinh tế, đây còn là môi trường để hội viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở.

Trong quá trình đó, nhiều hội viên CCB đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng xanh, an toàn và bền vững. Điểm chung ở những mô hình này là tinh thần dám nghĩ, dám làm, chủ động thích ứng với điều kiện thực tế, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và gắn phát triển kinh tế với trách nhiệm cộng đồng.

Liên kết sản xuất, nâng cao giá trị nông sản

Tiêu biểu trong phong trào là CCB Nguyễn Duy Viên, ở thôn Thống Nhất, xã Trường Ninh, với nhiều năm gắn bó trên cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Thống Nhất. Từ thực tiễn sản xuất, đồng chí Viên xác định muốn nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp phải đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và tăng cường liên kết để nâng cao giá trị nông sản.

Trước những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình đô thị hóa, biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, đồng chí đã chủ động đổi mới phương thức điều hành, phối hợp với các đơn vị chuyên môn, đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Hợp tác xã từng bước triển khai các mô hình canh tác lúa theo hướng hữu cơ, áp dụng quy trình VietGAP, hướng tới tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trên những cánh đồng lớn.

Từ diện tích sản xuất hai vụ ban đầu 120ha, hợp tác xã đã mở rộng vùng sản xuất lên 250ha, đưa năng suất lúa đạt 75-76 tạ/ha/vụ, thuộc nhóm dẫn đầu tại địa phương. Diện tích liên kết sản xuất đạt từ 80 đến 150ha, góp phần nâng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích từ 3-7%.

Hiện nay, hợp tác xã có 340 thành viên, tổng diện tích sản xuất lúa 370ha, sản lượng thu hoạch khoảng 3.100-3.200 tấn mỗi năm, doanh thu hơn 10,5 tỷ đồng/năm. Cùng với chú trọng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hợp tác xã luôn quan tâm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, từng bước hình thành phương thức sản xuất nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững.

Hiệu quả của mô hình còn thể hiện rõ qua trách nhiệm với người lao động và cộng đồng. Hợp tác xã tạo việc làm thường xuyên cho 19 lao động, trong đó có 9 CCB, với mức lương bình quân gần 8 triệu đồng/người/tháng; đồng thời tạo việc làm thời vụ cho 30-50 lao động. Bên cạnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đơn vị còn hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho các gia đình khó khăn, đối tượng chính sách; hướng dẫn kỹ thuật, giúp hội viên nghèo, cận nghèo từng bước vươn lên trong sản xuất.

Từ cách làm của CCB Nguyễn Duy Viên có thể thấy, phát triển nông nghiệp xanh không chỉ là đổi mới kỹ thuật canh tác mà còn là quá trình tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa hợp tác xã, người lao động với cộng đồng.

Làm giàu từ vườn ươm giống cây lâm nghiệp công nghệ cao

Nếu mô hình của CCB Nguyễn Duy Viên cho thấy hiệu quả của liên kết sản xuất nông nghiệp thì mô hình “Vườn ươm giống cây lâm nghiệp công nghệ cao” của CCB Thái Thị Bang, ở xã Cam Lộ, lại là minh chứng cho tinh thần vượt khó, nhạy bén với thị trường và quyết tâm phát triển kinh tế theo hướng xanh.

Sinh sống tại địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió Lào, CCB Thái Thị Bang đã lựa chọn nghề ươm giống cây lâm nghiệp để phát triển kinh tế gia đình. Năm 2006, bà bắt đầu xây dựng vườn ươm với quy mô nhỏ. Do hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ còn hẹp và sản xuất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, những năm đầu, mô hình gặp không ít khó khăn, thu nhập chỉ đủ trang trải cuộc sống và duy trì sản xuất.

Không chấp nhận dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, bà Bang kiên trì tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua các phương tiện thông tin, những lớp tập huấn và các chuyến tham quan mô hình tại địa phương khác. Đồng thời, bà chủ động tìm hiểu nhu cầu thị trường, nghiên cứu các loại giống cây lâm nghiệp có giá trị, phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu trồng rừng.

Năm 2020, bà quyết định đầu tư hơn 1,8 tỷ đồng xây dựng mô hình “Vườn ươm giống cây lâm nghiệp công nghệ cao”. Đây là quyết định táo bạo, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nguồn vốn được tập trung đầu tư xây dựng nhà kính, quy hoạch hệ thống vườn ươm, lắp đặt thiết bị chiếu sáng, hệ thống tưới, tiêu và phun thuốc tự động, đồng thời triển khai các hạng mục phục vụ xử lý, bảo vệ môi trường.

Việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất đã giúp vườn ươm từng bước nâng cao chất lượng cây giống, chủ động hơn trong quy trình chăm sóc, giảm sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường. Hằng năm, cơ sở cung cấp cho thị trường trong Tỉnh và các địa phương lân cận hơn 120 nghìn cây giống các loại, chủ yếu là lát hoa, lim, gõ, trắc, giáng hương, dỗi, dẻ, trâm nổ, săng mã.

Mô hình đạt doanh thu bình quân hơn 1,2 tỷ đồng/năm, lợi nhuận sau khi trừ chi phí trên 750 triệu đồng/năm; tạo việc làm thường xuyên cho 4-6 lao động và 25-30 lao động thời vụ. Trong quá trình hoạt động, bà Bang ưu tiên tạo điều kiện việc làm cho hội viên CCB và lao động thuộc các hộ nghèo, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân địa phương.

Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình, mô hình vườn ươm còn góp phần cung ứng nguồn cây giống phục vụ trồng rừng, tạo thêm sinh kế cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị sản xuất gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Hai mô hình, hai hướng đi khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở tinh thần chủ động đổi mới, dám nghĩ, dám làm của người lính năm xưa trên mặt trận phát triển kinh tế. Từ đồng ruộng đến vườn ươm, các CCB đang khẳng định vai trò tiên phong trong ứng dụng khoa học, công nghệ, xây dựng những mô hình sản xuất hiệu quả, thân thiện với môi trường.

Nhân rộng mô hình, hướng tới phát triển bền vững

Đánh giá về những kết quả đạt được, đồng chí Hoàng Xuân Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội CCB tỉnh Quảng Trị, khẳng định: Các thế hệ CCB đã được tôi luyện qua thử thách của chiến tranh và môi trường Quân đội. Khi trở về địa phương, họ tiếp tục phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu, nhiệt tình tham gia các hoạt động ở cơ sở, bằng tinh thần trách nhiệm, sự chân thành và những hành động cụ thể.

Theo đồng chí Hoàng Xuân Vĩnh, mỗi mô hình kinh tế của hội viên có quy mô và phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều thể hiện khát vọng làm giàu chính đáng bằng sức lao động, trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cấp Hội tiếp tục khuyến khích hội viên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Thời gian tới, Hội CCB tỉnh Quảng Trị tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để hội viên tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi; tăng cường kết nối giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, Hội chú trọng tuyên truyền, vận động hội viên đổi mới tư duy, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường.

Phát triển nông nghiệp xanh là hướng đi đòi hỏi sự kiên trì, sáng tạo và trách nhiệm lâu dài. Với ý chí, nghị lực và tinh thần vượt khó của người lính, các CCB Quảng Trị đang tiếp tục viết nên những câu chuyện đẹp trong lao động, sản xuất. Mỗi mô hình hiệu quả không chỉ góp phần làm giàu cho gia đình, tạo việc làm cho người lao động mà còn lan tỏa tinh thần đoàn kết, trách nhiệm với cộng đồng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp xanh, an toàn và bền vững.

TRẦN VĂN TÌNH

Chuyên viên Ban Công tác CCB tỉnh Quảng Trị

Bạn đang đọc bài viết Cựu chiến binh Quảng Trị chung sức phát triển nông nghiệp xanh tại chuyên mục Tỉnh thành Hội của Trung ương hội Cựu chiến binh Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 024 - 32444645 hoặc gửi về hòm thư btgccb@gmail.com