Mảnh pháo nơi cao điểm xám mờ

Bước ra từ mùa hè rực lửa năm 1972 với mảnh pháo găm sâu trong hộp sọ, ông Nguyễn Văn Hòa đã biến nó làm hành trang cho một cuộc chiến mới, mang theo ngọn lửa tri ân đồng đội đến cuối đời.

Ông Hòa (Người ngồi xe lăn) cùng đồng đội thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp nghỉ dưỡng tại Làng Hữu Nghị Việt Nam tháng 3/2026

(Ảnh: Đặng Thị Toàn)

Lần đầu qua “vùng bão lửa”

Mùa hè năm 1972, khi mảnh đất Đoan Hùng của tỉnh Phú Thọ đang đắm mình trong cái oi nồng ngột ngạt của vòm trời mịt mù bom đạn. Gió ngàn rười rượi thổi về, nhưng chẳng thể nào hong khô nổi cái hanh hao và mùi thuốc súng nồng đượm từ vĩ tuyến xa xôi. Giữa những ngày tháng sục sôi của một thời hoa lửa ấy, ông Nguyễn Văn Hòa vừa chớm bước những bước đi đầu tiên vào ngưỡng cửa cuộc đời. Năm ấy, Ông vẫn chưa đầy mười tám tuổi - cái tuổi mười mươi thanh tân và trong trẻo nhất của một đời người.

Nếu như ở một miền xứ sở thanh bình vô lo vô nghĩ, cái tuổi ấy người ta có quyền được tự do mơ mộng, được thong thả vẽ nên những kế hoạch lấp lánh cho tương lai hay giản dị hơn là tính chuyện học lấy một cái nghề để lập thân, lập nghiệp.

Thế nhưng, đối với ông Hòa những lối rẽ êm đềm ấy đang đặt trước lằn ranh bờ cõi lay lắt trong khói đạn, mọi dự định riêng tư đều trở nên quá đỗi nhỏ bé. Từng ngày chứng kiến quê hương mình đang rớm máu dưới gót giày viễn chinh, nỗi mong mỏi cứ thế đè nặng lên tâm can chàng trai trẻ mỗi đêm dài thao thức. Để rồi, mỗi bận ngước mắt nhìn những chuyến xe nhập ngũ gầm rú gieo bụi mờ men theo đường làng, nối đuôi nhau ra tiền tuyến, ngọn lửa cháy bỏng nơi lồng ngực lại bùng lên thiêu đốt, giục giã. Chẳng một chút đắn đo, Ông quyết định xếp lại bút nghiên còn vương mùi mực, khép lại những ước mơ thuở thiếu thời để đổi lấy màu xanh áo lính.

Ước vọng duy nhất là làm sao góp sức bảo vệ bằng được lũy tre làng và giữ vẹn nguyên mái nhà vôi cho cha mẹ. Khẽ nheo đôi mắt đã mờ đục theo năm tháng, giọng Ông chùng xuống: “Tôi vẫn nhớ năm đó, có lệnh nhập ngũ, tôi đã viết đơn xin đi, mặc dù chưa đủ tuổi, nhưng lúc đó quyết tâm lắm, đất nước đang cần mình, mình cũng cần đất nước nên chẳng tiếc gì đâu. Đâu có giặc là ta cứ đi”, ông chia sẻ.

Chiến trường thật sự ở đâu?

Giữa cái tĩnh mịch rợn ngợp của một buổi sớm, bao trọn cả không gian vào một màu xám xịt, im lìm đến thắt lòng. Trong bóng tối nhập nhẹm chưa rạng ấy, ông Hòa cùng 295 người con đất Tổ lặng lẽ khoác lên vai hành trang ra trận; siết chặt lại quai ba lô con cóc sờn màu, run nhẹ trước cái vẫy tay lưu luyến và ánh mắt dõi theo đau đáu của gia đình. Để rồi, khi những gót chân người lính khuất hẳn vào lối rẽ, bỏ lại sau lưng dải sương dày đặc đang nuốt chửng lấy những mái nhà nghèo nàn, lam lũ.

Sau 02 tháng 17 ngày nếm trải nắng gió gột rửa trên bãi tập miền Đại Từ (Thái Nguyên) thuộc Trung đoàn 246 Quân khu Việt Bắc, đơn vị của ông nhận lệnh hành quân về dải đất miền Nam. Thế nhưng, chiến trường xưa nay vốn là thánh đường thử lửa nghiệt ngã nhất. Nó thử thách lòng người không phải bằng những thanh âm reo hò chiến thắng, mà bằng những mất mát xé lòng ngay khi đôi chân người lính còn chưa kịp mường tượng ra hình hài của trận địa.

Năm tháng ấy là những ngày dài thắt lòng, kẻ thù còn chưa kịp đối mặt thì đồng đội của ông đã cứ thế rời đi vô danh sau mỗi trận bão bom trút xuống. Nửa thế kỷ trôi qua, ông Hòa vẫn cứ nấc nghẹn, bàn tay gầy guộc run run bấm từng ngón như đang đếm lại những mảnh vỡ xé lòng: "Cứ đi qua một nơi lại mất thêm ít nhất là chục người, Ở Kỳ Lâm là 24 người, gượng dậy đi qua Đèo Ngang vào tới sông Mỹ Chánh lại mất thêm 18 người nữa. Toàn là anh em cùng quê, chết trong bom đạn lúc còn chưa kịp nhìn thấy cái mặt trận nó ngang dọc ra sao, ngón tay chưa một lần kịp chạm vào cò súng để mà đánh lại...", Ông nói.

Cái giá ấy quá đắt, để lại một vết thương rỉ máu găm sâu vào tâm can, cứ mỗi lần nhớ lại, người lính già lại ôm ngực khóc nghẹn vì bất lực và xót thương. Sau những mất mát đau thương ban đầu, ông Hòa cùng những người đồng đội còn sống sót được sáp nhập vào Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Bình Trị Thiên để chính thức bước vào cuộc chiến. Tại đây, Ông cùng đơn vị liên tục tham gia vào các trận đánh giành giật từng tấc đất vô cùng cam go tại Hàm Bằng, Núi 620, rồi tiếp tục tiến quân xuống vùng đồng bằng.

Đến đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đơn vị của Ông nhận lệnh rút về vùng thung lũng A Lưới (dưới chân núi A Bia) để củng cố lại lực lượng. Thế nhưng, bước chân người lính ấy vẫn chưa một ngày được ngơi nghỉ. Đến tháng 6 năm 1973, ông lại tiếp tục vượt dãy Trường Sơn, hành quân vào Tây Nguyên, trực tiếp tham gia trận chiến khốc liệt tại điểm cao Đắk Pét (Kon Tum).

Ngoài những giấy phút đấu tranh với tử thần thì thứ vây hãm con người chính là cái đói, cái khát, nó vắt kiệt con người từ bên trong cho đến khi chỉ còn một nhúm hơi tàn. Mưa đại ngàn xối xả ngày này qua ngày khác, quần áo mặc trên người bở bục ra rồi rách nát, cả tiểu đội cởi trần, độc chiếc quần đùi bám lấy chiến hào nhầy nhụa bùn đất. Những cơn cào ruột cứ thế mà nổi lên, họ có thể ăn bất cứ thứ gì “miễn là còn sống”: từ vốc gạo rang khét lẹt, mấy miếng lương khô mốc xanh dính đầy nước mưa, cho đến cọng rau môn thục, lõi cây xương xi đắng ngắt vặt vội dưới giao thông hào. Đói khát đến mức có hớp nước cặn dưới đáy ca, miếng bánh nát cũng chuyền tay nhau bẻ đôi. Vậy mà cái chết ập đến lạnh lùng và chớp nhoáng: vừa mới nhai chung miếng bánh, quay đi quay lại một loạt pháo dội qua, người bên cạnh đã thành một cái xác không còn nguyên vẹn. Sự tàn khốc đẩy lên đỉnh điểm khi người sống chẳng còn thời gian mà khóc, cứ lầm lũi gom nhặt thân xác đồng đội dính đầy bùn đất để đem đi chôn ngay dưới tầm pháo địch. Giọng ông Hòa lạnh đi, nghẹn đặc khi nhắc lại: "Đất đá Thượng Đức cứng lắm, có những ngôi mộ đang cào nửa chừng thì đụng phải đá hộc, không thể nào đào sâu thêm được nữa. Lúc ấy chỉ biết nuốt nước mắt, ôm cái xác còn chưa kịp lạnh của đồng đội kéo sang chỗ khác để vùi đại cho kịp. Đau xót nhất là có đồng đội đang cúi đầu khâm liệm cho người nằm xuống thì một quả pháo dội trúng, tiếng nổ dứt thì cả hai cùng ngã phịch xuống, nằm chết gục bên cạnh nhau... Người sống chưa kịp chôn người chết thì đã lại thành xác chết", những giọt nước mắt và nỗi ám ánh khôn nguôi cứ thế mà tuôn ra theo lời kể của Ông.

Mảnh pháo trên đầu

Có lẽ, miền ký ức vĩnh viễn không thể xóa nhòa, đau đớn nhất trong tâm khảm người lính già chính là những ngày bám trụ tại Cao điểm 1062 thuộc vùng đất Thượng Đức (Quảng Nam) vào tháng 9 năm 1973. Nơi ấy, đơn vị của ông phải đối đầu trực diện với những sư đoàn lính dù và thủy quân lục chiến khét tiếng của quân Ngụy. Để dọn đường cho lũ bộ binh điên cuồng lao lên hòng cướp lại cao điểm, địch lồng lộn trút "pháo bay" liên hồi từ tàu chiến ngoài biển Đà Nẵng, dội bão lửa xuống lòng chảo Đại Lộc. Loại pháo ấy tàn độc đến mức tiếng nổ chưa kịp dứt thì đạn đã rít ngay trên đầu, băm nát từng ngọn cỏ, cày xới nát bươm từng tấc đất. Cứ 10 đến 20 quả pháo liên tiếp nối đuôi nhau trút xuống dồn dập với dã tâm san phẳng cả ngọn đồi. Nằm ép mình dưới hầm chữ A nghe đất đá sụt xuống rào rào, tai ù đi, ngực thắt lại đến mức đau nhói, nhưng ông Hòa lúc ấy chỉ cuộn lên một suy nghĩ trần trụi và quyết liệt: “Đã vào đây thì chỉ biết đánh. Phải bám trụ, phải đánh trả, vì nếu không đánh thì chẳng bao giờ có cơ hội thắng được kẻ thù!”, ông Hòa chia sẻ lại.

Trải qua một nửa trận chiến, khói mù mịt phủ kín trận địa, tiểu đội 15 người của ông sau một trận pháo chỉ còn lại vài ba bóng người lay lắt. Bóng tối đặc quánh, mùi khói khét, một tiếng “ầm” chói tai hất tung tất cả rơi trên nóc hầm. Sức tàn phá khủng khiếp hất văng ông Hòa vào vách đất, năm đồng đội bên cạnh đã gục trên nền đất lạnh tanh,… Giữa khoảnh khắc đất trời chao đảo ấy, một mảnh pháo sắc lạnh đã phạt phăng một mảng da đầu, găm thẳng vào hộp sọ ông Hòa. Sức ép khủng khiếp hất văng ông vào vách đất. Ông ngã gục xuống, máu từ đỉnh đầu tuôn ra ướt đẫm cả gấu áo, một luồng khí lạnh toát xộc thẳng vào đại não khiến toàn thân tê dại.

Trong cơn nửa tỉnh nửa mê vì vết thương quá nặng, tai ông ù đặc nhưng vẫn nghe rõ mồn mưu mùi thuốc súng khét lẹt chen lẫn mùi máu tươi sặc sụa. Căn hầm tối tăm bỗng chốc vang lên tiếng rên rỉ xé lòng cùng tiếng gọi khản đặc, run rẩy của người đồng đội còn tỉnh táo: “Tỉnh lại đi! Giữ chặt vết thương! Không được nhắm mắt nghe không!”. Nhưng lúc đó tôi cũng đã bị thương quá nặng rồi, chẳng còn sức mà trả lời nữa”, ông Hòa nghẹn ngào nhớ lại.

Nằm bất động trong vũng máu, Ông bất lực nhìn những hơi thở thoi thóp cuối cùng của đồng đội cứ nhỏ dần rồi lịm hẳn. Hai người hy sinh tại chỗ, hai người bị thương nặng. Nằm im chịu trận trong căn hầm sập hầm hập khói, tim đập lên từng hồi thảng thốt, Ông vừa căm phẫn vừa đau đớn nhìn những người đồng chí mới vài phút trước còn chia nhau điếu thuốc giờ đã lạnh ngắt. Sự sống vơi đi ngay trước mắt mà không thể làm gì được. Toàn bộ những người còn thoi thóp trong hầm phải nín thở chịu đựng vết thương hành hạ, nằm chờ đêm xuống để cáng nhau ra tận dòng sông Vu Gia, lên thuyền vượt sông về trạm phẫu. Để rồi sau này tỉnh lại, ông vĩnh viễn mang trên mình vết thương của một thương binh hạng nặng 2/4. Mảnh đạn hơn nửa thế kỷ trước nằm im trong đầu, nay vết thương bọc mỡ chèn ép nghiêm trọng vào hệ thần kinh, cướp đi nửa phần cơ thể bên phải của Ông. Khi các giáo sư đầu ngành lắc đầu bảo tỷ lệ thành công của ca mổ chỉ là 50/50, người lính già chỉ khẽ mỉm cười, chọn cách bình thản sống chung với nó.

Thời bình “luôn là tiến về phía trước”

Khói súng Thượng Đức tan đi, sau khi tham gia Chiến dịch giải phóng Huế, ngày 20/4/1975, Ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân. Bước ra khỏi cuộc chiến với mảnh đạn găm trong hộp sọ, Ông tiếp tục khoác áo lính, giữ chức Chính trị viên đại đội, Trợ lý cán bộ Trung đoàn thuộc Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1), vác súng lên biên giới Lạng Sơn chống quân xâm lược năm 1979. Đến năm 1981, khi những cơn đau đầu hành hạ dữ dội do vết thương cũ tái phát nghiêm trọng, sức khỏe suy giảm, Ông mới chịu rời quân ngũ, chuyển ngành.

“Tàn nhưng không phế” - Với đôi bàn tay từng cầm súng và cái đầu mang thương tật, Ông không chấp nhận dừng lại, quyết tâm theo học hệ tại chức của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, mang về tấm bằng Cử nhân để trở thành một cán bộ pháp luật sắc sảo tại Phòng Tư pháp huyện Đoan Hùng, đồng thời là một cộng tác viên báo chí, một báo cáo viên tuyên truyền năng nổ.

Suốt 44 năm cống hiến, trải qua nhiều vị trí từ Huyện ủy đến Uỷ ban nhân dân Huyện, ông Hòa chưa một ngày ngơi nghỉ. Người thương binh ấy vẫn bền bỉ suốt 25 năm làm Trưởng ban liên lạc Hội đồng ngũ, tổ chức những chuyến đi về lại chiến trường xưa Đại Từ (Thái Nguyên) để tìm mộ liệt sĩ, dựng hội trường tri ân nhân dân nơi mình từng huấn luyện. Người ta cũng thấy Ông dành trọn 17 năm ròng rã (2008 – 2025) trên cương vị Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/điôxin Huyện. Bản thân cũng là một nạn nhân, Ông không ngồi phòng máy lạnh mà trực tiếp dẫn các mạnh thường quân lội bộ đến từng căn nhà lá, để họ chứng kiến tận mắt nỗi đau da cam, từ đó dựng xây hàng chục mái ấm cho những mảnh đời bất hạnh.

Mới đây nhất, vào ngày 01 tháng 7 năm 2025, khi Hội cấp huyện không còn, người lính già ở tuổi thất thập lại lầm lũi rút về tuyến cơ sở, tiếp tục gầy dựng Hội cấp xã vì không nỡ nhìn các nạn nhân mất đi chỗ dựa.

Tại Làng Hữu Nghị Việt Nam - nơi ông Hòa đang đi an dưỡng chế độ dành cho cựu chiến binh, khi bóng nắng đổ dài qua ô cửa sổ, soi vào gương mặt hằn sâu vết chân chim của người chính trị viên năm nào, được cán bộ nơi đây hỏi về những huân chương, bằng khen treo kín tường, Ông xua tay, ánh mắt nhìn về một cõi xa xăm: "Mấy cái đó không quan trọng đâu. Thời buổi này, mình đành lòng vui vẻ chấp nhận thôi. So với những anh em giờ này vẫn còn nằm lại nơi rừng sâu núi thẳm, chưa có lấy một nấm mồ, một nén hương... mình còn được sống trở về là cái phúc lớn lắm rồi", giọng nói vừa mang chút chua xót mà lại bình thản đến lạ thường, tất cả mọi thứ như trở nên nhẹ nhàng trước những anh hùng vô danh mà Ông trân trọng suốt cả một đời.

ĐẶNG THỊ TOÀN

Làng Hữu nghị Việt Nam

Bạn đang đọc bài viết Mảnh pháo nơi cao điểm xám mờ tại chuyên mục Cơ quan Trung ương (487) của Trung ương hội Cựu chiến binh Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 024 - 32444645 hoặc gửi về hòm thư btgccb@gmail.com